Tác giả: A de la Chapelle, AM Moyer, AM Pittman, B D'Avanzo, C Chao, C Martínez, C Sachse, CR Sharpe, DM Gertig, DW Nebert, E Botteri, E Botteri, E Giovannucci, E Giovannucci, E Giovannucci, ED Paskett, EF Heineman, EM van der Logt, Guang Yin, H Bartsch, Hitoshi Ichimiya, Hoirun Nisa, IP Tomlinson, J Little, JA Agúndez, JA Agúndez, Jun Nagano, K Chen, K Huang, K Isomura, K Tajima, Kengo Toyomura, Kenji Takenaka, Kitaroh Futami, KM Smits, Koji Ikejiri, KT Kelsey, L Hou, L Sivaraman, M Arand, Masao Tanaka, ML Cote, ML Slattery, ML Slattery, N Ishibe, O Nyrén, P Lichtenstein, PD Terry, RC Strange, Reiji Terasaka, Ryuichi Mibu, S Kono, SC Cotton, Suminori Kono, T Hagiwara, T Katoh, T Oyama, Takafumi Maekawa, Takeshi Okamura, V Harth, Y Hoshiyama, Yohichi Yasunami, Yoshihiko Maehara, Yoshihiro Kakeji
Đã xuất bản: 1 tháng 1, 2010
Trong nghiên cứu đối chứng dựa trên dân số này, với 685 trường hợp ung thư đại trực tràng và 778 người trong nhóm đối chứng từ Nghiên cứu Ung thư Đại Trực Tràng Fukuoka, những người tham gia có thời gian hút thuốc tương đương hoặc lớn hơn 400 gói/năm có nguy cơ mắc bệnh ung thư trực tràng cao hơn đáng kể (OR 1,60, khoảng tin cậy 95% là 1,04-2,45) so với những người không hút thuốc suốt đời. Nhìn chung, nguy cơ mắc bệnh ung thư đại trực tràng cho thấy OR là 0,65 (khoảng tin cậy 95% là 0,45-0,89) đối với thời gian hút thuốc dưới 400 gói/năm, 1,16 (khoảng tin cậy 95% là 0,83-1,62) đối với thời gian hút thuốc từ 400 đến 799 gói/năm và 1,14 (khoảng tin cậy 95% là 0,73-1,77) đối với thời gian hút thuốc từ 800 gói/năm trở lên. Sự gia tăng nguy cơ khi mức độ tiếp xúc với khói thuốc tích lũy cao hơn, đặc biệt là đối với ung thư trực tràng, ủng hộ việc tránh hút thuốc như một biện pháp phòng ngừa.